Chẹn beta giao cảm và tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sau NMCT cấp không suy tim.

Câu hỏi nghiên cứu: Liệu có mối liên quan giữa sử dụng chẹn beta giao cảm và tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân sau NMCT không có suy tim hoặc rối loạn chức năng tâm thu thất trái không?

Phương pháp: Từ dữ liệu sổ bộ của Anh và xứ Wales, các tác giả đã tiến hành một nghiên cứu quan sát cấp  quốc gia để xem liệu sử dụng chẹn beta ở các bệnh nhân sau NMCT cấp không có suy tim hoặc rối loạn chức năng thất trái có làm giảm tỉ lệ tử vong hay không. trong thời gian theo dõi 1 năm. Phân tích thuần tập đựa trên việc lựa chọn 179810 bệnh nhân trong số 531282 bệnh nhân nhập viện vì NMCT cấp trong khoảng thời gian từ tháng 1/1/2007 đến 30/6/2013, và lần khám cuối cùng là 31/12/2013. Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu là những bệnh nhân có chẩn đoán xác định lúc ra viện là NMCT có ST chênh lên (STEMI) hoặc không có ST chênh lên (Non-STEMI). Những bệnh nhân có các chẩn đoán khác, tử vong trong viện, thiếu dữ liệu về tử vong hoặc trên 100 tuổi, tiền sử NMCT, đau thắt ngực, đã can thiệp động mạch vành qua da và/hoặc phẫu thuật bắc cầu nối chủ - vành; trước đó đã sử dung chẹn beta giao cảm hoặc có chống chỉ định với chẹn beta giao cảm; suy tim và sử dụng lợi tiểu quai bị loại khỏi nghiên cứu.

Phương pháp: xác xuất nghịch đảo thời gian sống thêm được hiệu chỉnh theo kỹ thuật ghép cặp  điểm xu hướng và phân tích dựa trên các biến công cụ đã được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa sử dụng chẹn beta và tử vong. Mô hình phân tích được hiệu chỉnh theo giới, yếu tố kinh tế - xã hội, năm nhập viện, tình trạng đái tháo đường, tăng cholesterol máu, hút thuốc lá, và tiền sử gia đình bệnh mạch vành, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; bệnh mạch máu não, bệnh động mạch ngoại biên, sử dụng các thuốc statin, aspirin, thuốc ức chế P2Y12, ức chế men chuyển/ức chế thụ thể angiotensin; Các biến nguy cơ được hiệu chỉnh theo thang điểm GRACE VÀ bệnh nhân có được điều trị bởi bác sỹ tim mạch và được phục hồi chức năng tim mạch hay không.

Kết quả: Trong 179.810 bệnh nhân NMCT cấp không có suy tim hoặc rối loạn chức năng thất trái, 91.895 bệnh nhân NMCT cấp có ST chênh lên (51.1%) và 87.915 bệnh nhân NMCT không ST chênh lên (48,9%);Có 141.097 bệnh nhân được sử dụng chẹn beta giao cảm (95,1%). Nhóm được sử dụng chẹn beta giao cảm có độ tuổi trẻ hơn và tỷ lệ bệnh nhân nam nhiều hơn (tuổi 63,3± 13,4 và tỷ lệ nam giới 71,1%) khi so sánh với nhóm không sử dụng chẹn beta giao cảm (tuổi 68,6 ± 15,1 và tỷ lệ nam giới 61,7%)). BN không được sử dụng chẹn beta giao cảm có tỉ lệ đái tháo đường, suy thận mạn, hen phế quản hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh mạch máu não cao hơn, và điểm GRACE ở mức trung bình hoặc cao. Trong toàn bộ quá trình theo dõi thuần tập (tối đa 1 năm), có 9.373 trường hợp tử vong (5,2%). Tỉ lệ tử vong chưa hiệu chỉnh ở nhóm sử dụng chẹn bêta giao cảm thấp hơn ở nhóm không được sử dụng chẹn beta (4,9% vs 11,2%; p<0,001). Sau khi sử dụng phương pháp ghép cặp điểm khuynh hướng, có 16.683 bệnh nhân (4.932 NMCT ST chênh lên [29.6%] và 11.751 NMCT không ST chênh lên [70.4%]) tiếp tục được phân tích. Trong nghiên cứu này, sau khi sau khi hiệu chỉnh dựa trên trọng số và biến công cụ, không thấy có sự khác biệt về sống còn ở bệnh nhân NMCT cấp không có suy tim hoặc rối loạn chức năng thất trái ở cả 2 nhóm sử dụng và không sử dụng chẹn beta giao cảm, tại thời điểm sau 1 năm theo dõi (Hệ số hiệu quả điều trị trung bình [average treatment effect - ATE] 0,07; 95% CI: -0,6 -> 0,75; p=0,827). Kết quả tương tự ở cả hai nhóm bệnh nhân NMCT có ST chênh lên (Hệ số ATE 0,3; 95% CI 0,98 – 1,58; p=0,637) và nhóm bệnh nhân NMCT không ST chênh lên (Hệ số ATE 0,07; 95% CI -0,68 – 0,54; p=0,819).

Kết luận: Nghiên cứu quan sát thuần tập tiến cứu với dữ liệu sổ bộ ở mức quốc gia cho thấy sử dụng chẹn bêta giao cảm không làm giảm tỉ lệ tử vong sau 1 năm theo dõi ở bệnh nhân NMCT cấp không có suy tim hoặc rối loạn chức năng tâm thu thất trái.

Triển vọng: Có sự khác nhau trong các khuyến cáo về việc sử dụng chẹn beta ở bệnh nhân sau NMCT không có suy tim hoặc rối loạn chức năng tâm thu thất trái. Các hướng dẫn của Mỹ khuyến cáo sử dụng chẹn bêta giao cảm cho tất cả các bệnh nhân sau NMCT bất kể có hay không có suy tim hoặc rối loạn chức năng tâm thu thất trái (khuyến cáo mức độ I), trong khi các hướng dẫn của Châu Âu chỉ khuyến cáo mức độ IIa cho việc sử dụng chẹn beta giao cảm ở những bệnh nhân không kèm suy tim hoặc rối loạn chức năng thất trái. Nghiên cứu hiện tại bổ sung thêm bằng chứng cho thấy việc kê đơn thường quy chẹn beta giao cảm cho bệnh nhân sau NMCT cấp có phân xuát tống máu bình thường và  không có suy tim có thể không mang lại lợi ích. Là một nghiên cứu dựa trên dữ liệu sổ bộ, vì vậy chúng ta không có các thông tin về tỉ lệ ngưng sử dụng chẹn beta sau khi ra viện hoặc các đợt suy tim/suy chức năng thất trái tiến triển trong suốt thời gian theo dõi của nghiên cứu, cũng như vai trò của việc sử dụng chẹn beta giao cảm trong thời gian nằm viện. Đây là những biến số quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của nghên cứu. Vì vậy, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nghiên có đối chứng cần được tiến hành để đánh giá hiệu quả của sử dụng chẹn beta giao cảm ở bệnh nhân sau NMCT cấp không có suy tim hoặc rối loạn chức năng tâm thu thất trái.

Chủ đề lâm sàng: Acute Coronary Syndromes, Geriatric Cardiology, Heart Failure and Cardiomyopathies, Prevention, Vascular Medicine, Acute Heart Failure

Từ khoá: Acute Coronary Syndrome, Adrenergic beta-Antagonists, Asthma, Cerebrovascular Disorders, Diabetes Mellitus, Geriatrics, Heart Failure, Kidney Failure, Chronic, Myocardial Infarction, Myocardial Ischemia, Primary Prevention, Pulmonary Disease, Chronic Obstructive, Survival, Ventricular Dysfunction, Left

Xem thêm tại: http://www.acc.org/latest-in-cardiology/journal-scans/2017/06/02/09/31/beta-blockers-and-mortality-after-acute-myocardial-infarction?utm_source=journalscan&utm_medium=email_newsletter&utm_campaign=journalscan&utm_content=20170

 


Danh mục:

Bình luận