Hs-Troponin dưới một cách nhìn mới: Dự đoán nguy cơ khi không có MI, ACS

Steve Stiles

25/10/2017

https://www.medscape.com/viewarticle/887610#vp_2

STOCKHOLM, SWEDEN — Troponin tim T (cTnT) có thể dự đoán tử vong và các biến cố lâm sàng ngay cả ở những bệnh nhân không có biểu hiện rõ ràng về bệnh tim mạch, gợi ý một nghiên cứu thuần tập lớn mở rộng trên nền tảng các nghiên cứu cho rằng troponin trong xét nghiệm độ nhạy cao (hs) hiện nay sẽ hữu ích để phân loại nguy cơ, không chỉ để khẳng định hoặc loại trừ MI cấp tính. Trong nghiên cứu với gần 20 nghìn bệnh nhân bị đau ngực nhưng không có biểu hiện NMCT cấp tính hoặc bệnh tim khác, mức hs-cTnT cao nhưng ổn định đã dự đoán nguy cơ cho khoảng 3 năm. Nguy cơ tăng lên đáng kể ngay cả ở mức hs-cTnT "thấp an toàn" so với giới hạn bình thường cao và nguy cơ tăng lên theo từng cấp ở các mức độ dấu ấn sinh học cao hơn. Cần lưu ý là mức độ tăng hs-cTnT nhỏ nhưng liên tục có liên quan mật thiết với nguy cơ phải nhập viện do suy tim hơn là NMCT trong tương lai.

Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Trường môn Tim mạch học Hoa Kỳ số ra ngày 31/10/2017 là một nghiên cứu mới nhất chỉ ra rằng có lượng nhỏ troponin được xác định ở tổn thương cơ tim có thể dự đoán những biến cố tim mạch trong tương lai. Thêm nữa, nghiên cứu thuần tập này loại trừ những người có hội chứng mạch vành cấp tính hoặc những tình trạng tim mạch đã được biết khác.

Sự tăng lên của hs-cTnT có thể là chỉ dấu của bệnh tim dưới lâm sàng chưa được xác định trước đây, theo Ts. Martin J Holzmann (Bệnh viện Đại học Karolinska, Thụy Điển),; Ts. Andreas Roos (Bệnh viện Đại học Karolinska) là tác giả đầu tiên của bài báo.

"Nếu tiến hành nghiên cứu, chúng tôi sẽ tìm được một số bệnh nhân bị suy tim mà trước đó chưa được phát hiện, hoặc phì đại thất trái, hoặc một nguyên nhân nào đó để giải thích sự tăng cao này", Holzmann nói với theheart.org | Medscape Cardiology

Ông lưu ý rằng ngay cả ở châu Âu, nơi việc xét nghiệm hs-troponin được thực hiện trước Bắc Mỹ, nhưng cũng chỉ được sử dụng để xác nhận hoặc loại trừ MI cấp tính,. "Nhưng tôi nghĩ trong tương lai, chắc chắn nó sẽ được sử dụng để làm chỉ dấu cho nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch. Có thể trong hoàn cảnh chăm sóc sức khỏe ban đầu."

Hơn nữa, nghiên cứu hiện nay "nhấn mạnh sự tiến hóa của troponin tim là một dấu hiệu mạnh liên tục của bệnh lý dưới lâm sàng hơn là chỉ là một xét nghiệm lưỡng phân cho ACS," theo Ts. Marc P Bonaca (Brigham and Women's Hospital, Boston, MA) trong lời biên tập  kèm theo bài viết. [2].

"Chúng ta phải bắt đầu giải thích hs-cTn trong bối cảnh này như là một chỉ báo về bệnh lý dưới lâm sàng quan trọng để bảo đảm cho sự đánh giá bổ sung", ông viết.

Để có thể làm được điều đó, điều quan trọng phải là nhìn nhận troponin cao như là một điều gì đó hơn là một dấu hiệu của thương tổn cấp tính. Mặc dù nghiên cứu này được quan sát thấy ở trong khoa cấp cứu, "những gì bạn đang xác định ở đây là một dấu hiệu mãn tính. Đó là một chứng đau cơ tim cấp thấp mãn tính", Ts. James De Lemos (University of Texas Southwestern Medical Center, Dallas) cho biết trong một cuộc phỏng vấn.

“Đó là một sự đo lường thô, và có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra tổn thương đó ở bất kỳ nhóm người nào,” theo De Lemos, người không liên quan tới nghiên cứu hiện tại nhưng tán thành nghiên cứu đó vì nó tập trung vào những bệnh nhân chưa phát hiện bệnh tim trước đó. Đó là lý do cần phải tiến hành nhiều xét nghiệm tiếp theo, hay nói cách khác, " giống như nhìn vào creatinine, sau đó cố gắng tìm ra nguyên nhân của rối loạn chức năng thận."

Phân tích này theo dõi 19.460 người lớn có biểu hiện đau ngực đến khoa cấp cứu của một trung tâm lớn trong hơn 4 năm, những người này không có biểu hiện NMCT cấp tính hoặc bất kỳ tình trạng cấp tính nào khác được cho là có ảnh hưởng đến nồng độ hs-cTnT. Trong nhóm này, 6,9% đã chết vì bất kỳ một nguyên nhân nào đó trong vòng trung bình 3,3 năm.

Thời gian theo dõi trung bình đối với các vụ tử vong được xác định nguyên nhân là 2,1 năm, trong đó 1,5% bệnh nhân tử vong do nguyên nhân tim mạch và 3,2% tử vong do các bệnh không phải tim mạch; 35% tử vong do ung thư và 34% là do bệnh tim mạch.

Tỷ suất nguy cơ điều chỉnh (95% CI) * đối với kết cục lâm sàng bằng cách đưa ra mức hs-cTnT ở 19.460 bệnh nhân bị đau ngực, không có NMCT.

* Tham khảo: <5 ng / L. HR được điều chỉnh theo tuổi, giới tính, tỷ lệ lọc cầu thận ước tính, tiền sử có MI, suy tim, đột quỵ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, rung nhĩ, tiểu đường, tăng huyết áp và sử dụng aspirin, thuốc chẹn bêta, thuốc ức chế ACE hoặc thuốc ức chế hấp thu angiotensin, và statin.

"Có một mối liên hệ chặt chẽ và theo từng giai đoạn giữa các mức hs-TnT có thể phát hiện được và nguy cơ mắc NMCT, suy tim, và tử vong do tim mạch và không do tim mạch", nhóm nghiên cứu viết. Phân tích phân nhóm rộng đã phát hiện một mô hình tương tự, với nguy cơ tăng lên theo từng giai đoạn ở mọi lứa tuổi, ở cả nam giới và phụ nữ, và bất kể chức năng thận hoạt động như thế nào

hs-TnT tăng — Hiện nay là gì?

Theo Holzmann, hiện tại đã đủ dữ liệu về các mức đ tăng ổn định của hs-cTnT trong trường hợp không xác định được nguyên nhân. Điều này sẽ thúc đẩy các công việc tiếp theo. "Tôi nghĩ chúng ta ít nhất là nên làm siêu âm tim thường quy- MRI không dễ tiếp cận ở Thụy Điển, nhưng ít nhất là siêu âm tim để loại trừ bệnh tim cấu trúc, như suy tim hoặc phì đại thất trái. Điều đó có thể giải thích nồng độ troponin cao."
De Lemos thống nhất quan điểm: "Điều đơn giản nhất có thể là siêu âm tim cho nhóm người này. Đây là một bước thận trọng tiếp theo, bởi vì một số nhóm nhỏ của những những người này sẽ mắc bệnh tim cấu trúc mà không phát hiện ra. Họ không cần phải kiểm tra chẩn đoán thiếu máu cục bộ, bởi vì thiếu máu cục bộ không có tác động lớn gây ra nồng độ troponin cao."

 

 

Đối với những người được phát hiện mắc bệnh tim dưới lâm sàng, cần phải làm gì tiếp theo có thể là câu hỏi khó hơn. Với sự phát hiện hs-troponins tại khoa cấp cứu, De Lemos nhận thấy có nhiều lo ngại về việc có thể có "rất nhiều người về cơ bản có mức tăng cao không lớn, và điều đó dẫn đến việc sử dụng quá mức các nguồn lực và tư vấn tim mạch nhiều quá mức. Tất cả chúng tôi đều rất lo lắng về điều đó."

Nhưng theo ông điều đó cũng không sao, "miễn là chúng ta công nhận rằng đây là một dấu hiệu dài hạn, không phải là ngắn hạn, và những người này cũng không cần phải nằm viện hoặc bị coi là trường hợp khẩn cấp hoặc cần cấp cứu. Về cơ bản họ có thể được coi như những người mắc các nguy cơ dài hạn. Đánh giá thận trọng hơn thì có thể bao gồm cả những bệnh nhân ngoại trú có làm siêu âm tim"
Theo De Lemos "Chiến lược đơn giản nhất là dùng sự báo hiệu về nguy cơ này để hướng đến những gì chúng ta đã biết chắc," chẳng hạn như kiểm soát huyết áp và lipid tăng cao và các khuyến nghị về lối sống.
Holzmann nhắc lại "Các can thiệp tương tự mà chúng tôi sử dụng cho bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, đó là liệu pháp statin cường độ cao, thuốc ức chế ACE, kiểm soát huyết áp, vv. Tôi tin rằng cách đó sẽ có hiệu quả ở nhóm bệnh nhân này".

 

“Tuy nhiên, chúng tôi cần thực hiện nghiên cứu tiến cứu với những bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên cho can thiệp đa yếu tố có so sánh với nhóm không can thiệp để biết cần phải làm gì với những bệnh nhân này."


Danh mục: Nghiên cứu khoa học , Bài viết chuyên đề

Bình luận
Bài viết liên quan