Không phải tất cả các trường hợp nhiễm khuẩn huyết liên cầu đều cần siêu âm tim

https://www.medscape.com/viewarticle/887505

NEW YORK (Reuters Health) - Các nhà nghiên cứu ở Thụy Điển cho biết một số kết quả đơn giản có thể giúp xác định những bệnh nhân nào bị nhiễm khuẩn liên cầu không tan huyết beta cần siêu âm tim để loại trừ viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
"Tôi và các đồng tác giả hình dung điểm số HANDOC của chúng tôi đang được sử dụng tại phòng khám của bác sĩ thăm khám bệnh nhân khi kết quả cấy máu đã được báo cáo từ phòng thí nghiệm", TS. Torgny Sunnerhagen từ Đại học Lund, Thuỵ Điển nói với Reuters Health qua email. "Đó là một điểm số sàng lọc ban đầu để xác định nên hay không nên tiếp tục kiểm tra viêm nội tâm mạc, và do đó điều này không chỉ giới hạn ở các bác sĩ chuyên khoa về bệnh truyền nhiễm hoặc tim mạch."
Liên cầu không tan
huyết beta (NBHS) là nguyên nhân gây ra 44% trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, nhưng không phải tất cả bệnh nhân bị nhiễm khuẩn huyết do NBHS đều tiến triển đến viêm nội tâm mạc, và không có hệ thống điểm số nào có thể giúp các bác sĩ xác định xem bệnh nhân đó có cần siêu âm tim qua thực quản hay không.
Để xây dựng điểm số nguy cơ, nhóm nghiên cứu của Ts. Sunnerhagen tập trung vào 340 bệnh nhân được cấy máu có NBHS: 26 trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, 197 viêm nội tâm mạc không nhiễm khuẩn, và 117 trường hợp không xác định được. Kết quả nghiên cứu được công bố trực tuyến ngày 10 tháng 10 tại Clinical Infectious Diseases.
Sử dụng các biến có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và nhóm viêm nội tâm mạc không nhiễm khuẩn, họ đã xây dựng sáu thành phần của điểm số HANDOC:
- Tiếng thổi ở tim hoặc bệnh van tim
- Căn nguyên dựa trên các chủng NBHS Streptococcus mutans, S. bovis, S. sanguinis, hoặc S. anginosus
- Số lượng cấy máu dương tính: 2 hoặc nhiều hơn

- Thời gian mắc triệu chứng: 7 ngày hoặc nhiều hơn

- Chỉ có 1 chủng phát triển trong cấy máu
- Nhiễm khuẩn cộng đồng
Mỗi thành phần của điểm số được cho 1 điểm, tổng số điểm có thể từ 0 đến 6.

 

“Kết quả hấp dẫn nhất là các nhóm con (S. sanguinis-group, S. bovis-group,…) rất quan trọng”, Ts. Sunnerhagen nói, “đặc biệt là sự khác biệt giữa nhóm S. mitis và S. sanguinis, vì chúng đã được coi là thuộc về cùng một nhóm và chỉ gần đây mới được xem là các nhóm khác nhau về mặt phân loại. ”

Ở khoảng giữa của 2 và 3 điểm, kết quả điểm số là 100% nhạy cảm và 73% đặc hiệu, với độ chính xác chung là 96%, để phân biệt giữa các bệnh nhân trong nhóm thuần tập so với bệnh nhân không bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
Kết quả tương tự trong nhóm thuần tập, với điểm số HANDOC từ 3 trở lên là nhạy cảm 100% và 76% đặc hiệu . Bao gồm cả bệnh nhân chưa xác định được chẩn đoán cuối cùng, 77% trường hợp không xác định viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn có điểm số là 2 hoặc ít hơn.

Nếu HANDOC được sử dụng để chỉ định có cần siêu âm tim hay không (có nghĩa là, không thực hiện cho bệnh nhân có điểm số 2 hoặc ít hơn), thì siêu âm tim đã được thực hiện trên 31% bệnh nhân, thay vì tỷ lệ thực tế nói chung là 42%.
“Mức độ tăng chi tiết sẵn có từ các phòng thí nghiệm vi sinh lâm sàng cần được đánh giá dựa trên dữ liệu lâm sàng để có thể được sử dụng căn cứ vào các bằng chứng trong lâm sàng”, Ts. Sunnerhagen nói.
Ts. George Heriot từ Bệnh viện Hoàng gia Melbourne, Trường Y tế Công cộng và Y tế Dự phòng Đại học Monash, Úc, người đã nghiên cứu nhu cầu siêu âm tim ở những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn huyết, cho Reuters Health biết qua email, "Các bác sĩ cần phải nhận thức rằng chỉ một số ít (khoảng 10%) bệnh nhân có nhiễm trùng huyết NBHS bị viêm nội tâm mạc, mặc dù giữa các bệnh đó có sự liên kết, và mặc dù những người bị viêm nội tâm mạc đều có những đặc điểm lâm sàng gợi ý đến bệnh.”

"Lợi ích lâm sàng của hệ thống điểm số này chủ yếu liên quan đến khả năng xác định những bệnh nhân có ít nguy cơ viêm nội tâm mạc, những người này có thể được quản lý một cách phù hợp mà không cần siêu âm tim", ông nói. “Tình huống điển hình mà câu hỏi đặt ra là bệnh nhân cấy máu dương tính duy nhất với NBHS và được đem đi để kiểm tra bệnh cấp tính mà không cần có các đặc điểm của viêm nội tâm mạc. Nghiên cứu này cho thấy rằng trừ khi có những biểu hiện lâm sàng gợi ý đến viêm nội tâm mạc (bệnh khởi phát do cộng đồng hoặc bất thường van tim), nguy cơ viêm nội tâm mạc là rất thấp.”
"Từ quan điểm phương pháp luận, điều quan trọng cần lưu ý là cho dù hệ thống điểm số là một kết quả bổ sung đơn giản, nhưng các yếu tố nguy cơ bao gồm dường như có những sức mạnh liên kết khác nhau", ông nói. “Như thường lệ, nhiễm khuẩn huyết đơn khuẩn dai dẳng là gợi ý cao đến nhiễm khuẩn nội mạch”.
"Cuối cùng, các bác sĩ nên lưu ý rằng thời gian điều trị kháng sinh trung bình cho những bệnh nhân được cho là không có viêm nội tâm mạc là 12 ngày và chỉ một số người bệnh được siêu âm tim, làm tăng khả năng có một số bệnh nhân bị viêm nội tâm mạc
nhiễm khuẩn nhưng không được phát hiện (và điểm <3) được vô tình chữa khỏi,” Ts. Heriot nói. "Cần thận trọng khi theo dõi bệnh nhân không siêu âm tim, là những người sẽ không được điều trị kháng sinh kéo dài, để đảm bảo rằng các triệu chứng không tái phát hoặc tiến triển."

NGUỒN: http://bit.ly/2yCshFm

Clin Infect Dis 2017.


Danh mục: Nghiên cứu khoa học , Bài viết chuyên đề

Bình luận
Bài viết liên quan