Yếu tố nào tốt hơn trong dự báo tỷ lệ tử vong tại ICU cho bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết? So sánh giữa nồng độ và tốc độ thanh thải lactat máu

Tác giả. Ata Mahmoodpoor, Kamran Shadvar, Seied Hadi Saghaleini, Evin Koleini, Hadi Hamishehkar, Zohre Ostadi, Nader D. Nader.

Mục tiêu. Dự báo tỷ lệ tử vong trong vòng 28 ngày với chỉ số lactat và oxy hóa máu ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết. Phương pháp. 82 bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtđược nhập khoa ICU. Tình trạng đa bệnh lý, các thông số huyết động, oxy hóa máu đã được ghi chép lại trong hồ sơ. Nồng độ lactat máu được đo tại các thời điểm T0, T6, T12 và T24 giờ sau nhập viện. Bão hòa oxy máu tĩnh mạch và động mạch cũng được đo. Phân tích hồi quy và ROC để dự báo tỷ lệ tử vong trong vòng 28 ngày. Kết quả. Trong số 82 bệnh nhân có 32 người đã tử vong tại ICU. Có sự khác biệt giữa nhóm bệnh nhân tử vong và sống về nồng độ lactat máu tăng cao hơn tại thời điểm nhập viện (0.6 mmol/l; p = 0.033), cần dùng norepinephrine cao hơn (14 µg/phút; P< 0.001), tỷ lệ tổn thương thận cấp cao hơn, thông khí cơ học kéo dài (5 ngày; P< 0.001) và thời gian nằm ICU (1 ngày; p = 0.029). Bão hòa oxy động mạch (a),  tĩnh mạch trung tâm (cv) và động mạch – tĩnh mạch (a - cv) tương tự giữa hai nhóm bệnh nhân sống và tử vong. Nồng độ lactat máu tại thời điểm T24 có giá trị tiên lượng tỷ lệ tử vong trong vòng 28 ngày tốt nhất với độ nhạy 78% và độ đặc hiệu 90% (Diện tích dưới đường cong AUC = 0.912 ± 0.033). Kết luận. Hàng loạt kết quả đo nồng độ lactat máu, đặc biệt là tại thời điểm 24 giờ sau nhập viện vẫn là yếu tố tiên lượng tỷ lệ tử vong ngắn ngày tốt nhất tại ICU. Các yếu tố dự báo tỷ lệ tử vong khác có sự liên quan thấp hơn và phải được sử dụng cùng lúc để tiên lượng tốt hơn kết cục lâm sàng cho bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết.


Danh mục: Nghiên cứu khoa học , Bài viết chuyên đề

Bình luận
Bài viết liên quan