Sử dụng sắt đường tĩnh mạch ở cho bệnh nhân lọc máu duy trì

Người dịch: ThS. Nguyễn Văn Thực, Bệnh viện Tim Hà Nội

Hiệu đính: PGS.TS. Lê Thu Hòa, Phụ trách Trung tâm ĐT- CĐT

Tác giả. Iain C. Macdougall, M.D., Claire White, B.Sc., Stefan D. Anker, M.D., Sunil Bhandari, Ph.D., F.R.C.P., Kenneth Farrington, M.D., Philip A. Kalra, M.D., John J.V. McMurray, M.D., Heather Murray, M.Sc., Charles R.V. Tomson, D.M., David C. Wheeler, M.D., Christopher G. Winearls, D.Phil., F.R.C.P., và Ian Ford, Ph.D. Các điều tra viên và ủy ban PIVOTAL

Tổng quan. Sử dụng sắt đường tĩnh mạch là điều trị chuẩn ở những bệnh nhân lọc máu, nhưng dữ liệu so sánh về hiệu quả lâm sàng còn hạn chế.

Phương pháp. Trong một thử nghiệm đa trung tâm, nhãn mở với đánh giá kết cục được làm mù, chúng tôi phânngẫu nhiênnhững người trưởng thành đang điều trị lọc máu duy trì vào nhóm được truyền sắt sucrose liều cao đường tĩnh mạch theo cách thức chủ động (400mg hàng tháng, trừ khi nồng độ ferritin > 700 μg/l hoặc độ bão hòa transferrin ≥40%), hoặc vào nhóm được truyền sắt sucrose liều thấp đường tĩnh mạch theo một cách thức phản ứng (0 to 400 mg mỗi tháng, với tiêu chuẩn sử dụng là nồng độ ferritin <200 μg/l hoặc độ bão hòa transferrin <20%). Kết cục tiên phát là phức hợp của nhồi máu cơ tim không tử vong, đột quỵ không tử vong, nhập viện vì suy tim, hoặc tử vong, được đánh giá trong một phân tích thời gian đến sự kiện đầu tiên. Các kết cục này cũng được phân tích như các sự kiện tái phát. Các kết cục thứ phát khác bao gồm tử vong, tỉ lệ nhiễm trùng, và liều của thuốc kích thích erythropoiesis. Sự không thua kém của nhóm liều cao so với nhóm liều thấp được thiết lập nếu mức giới hạn trên của 95%CI cho tỉ lệ ngẫu nhiên cho kết cục tiên phát không vượt quá 1.25.

Kết quả. Tổng số 2141 bệnh nhân được đưa ngẫu nhiên vào nghiên cứu (1093 bệnh nhân ở nhóm liều cao và 1048 bệnh nhân ở nhóm liều thấp). Thời gian theo dõi trung bình là 2.1 năm. Các bệnh nhân ở nhóm liều cao sử dụng liều sắt trung bình hàng tháng là 264 mg (khoảng tứ phân vị 200 - 336), so với 145mg (khoảng tứ phân vị 100-190) ở nhóm liều thấp. Liều thuốc kích thích erythropoiesis trung bình hàng tháng là 29,757 IU ở nhóm liều cao và 38,805 IU ở nhóm liều thấp (sự khác biệt trung bình −7539 IU, 95%CI −9485 - −5582). Tổng số 320 bệnh nhân (29.3%) ở nhóm liều cao có kết cục tiên phát, so với 338 (32.3%) bệnh nhân ở nhóm liều thấp (HR 0.85 95% CI, 0.73 - 1.00; P<0.001 cho sự không thua kém; P=0.04 cho sự hơn). Trong một phân tích sử dụng các tiếp cận các sự kiện tái phát, có 429 sự kiện ở nhóm liều cao và 507 sự kiện ở nhóm liều thấp (tỉ lệ ngẫu nhiên 0.77; 95% CI, 0.66 - 0.92). Tỉ lệ nhiễm khuẩn là như nhau ở 2 nhóm.

Kết luận. Trong các bệnh nhân lọc máu, sử dụng sắt đường tĩnh mạch liều cao một cách chủ động cho thấy ưu thế hơn việc sử dụng sắt liều thấp một cách phản ứng và liều kích thích erythropoiesis cần sử dụng thấp hơn.

Link bài: https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa1810742?query=featured_home


Danh mục: TT NCKH - ĐT - CĐT , Bài viết chuyên đề

Bình luận
Bài viết liên quan